KINH KIM CANG TÔNG THÔNG

Posted by tranminhhuydn on Mon, 10/01/2011 04:14

Hán dịch: Cưu-ma-la-thập, Tông thông: Tăng Phụng Nghi
Việt dịch: Thích Nữ Tuệ Đăng

Duyển Khởi

Trí Phật sâu xa, bậc thông thái cũng không thấy đến chỗ tột cùng. Lời Phật nhiệm mầu, người tầm thường đâu có thể biết được manh mối. Ngài Không Sinh nói “Vô thuyết”, trời Đế Thích rải hoa, mối nghi thầm ném bỏ. Ngài Vô Trước lên cung trời Đâu Suất nghe kinh, vậy mà phân chia bộ loại vẫn còn sai. Thế mới biết Bát-nhã vô biên và chỉ nhận kim cang là bậc nhất. Nghiên cứu tận tường không phải dễ, người tin nhận được cũng thật là hiếm có.


May thay! Có kệ diễn bày của bậc từ tôn (Di-lặc) đủ làm chuẩn mực. Mừng thay! Được Tụng cử dương của Phó Đại sĩ gõ nhịp hát xướng hợp nhau. Bồ-tát Công Đức Thí ở Tây Càn (Ấn Độ) soi sáng rõ ràng lý Không, Giả. San Định Ký của Ngài Trường Thủy (Tử Tuyền) lược nêu qui tắc hợp nhất các dị bản của kinh này, đều là hỗ trợ, Bồ-tát Thiên Thân mổ xẻ 27 điều nghi để rồi đoạn trừ sạch hết.

Vì muốn phô bày pháp thể, phá “phàm sở hữu tướng” nên cho rằng tất cả đều phi. Chỉ cần ý phá tướng càng tinh vi thì quán như huyễn càng dần dần sâu kín. Đã vào bậc trụ địa còn nói “vô trụ tương ưng”. Vừa khởi “độ chúng sinh”, liền nói “không có chúng sinh được diệt độ” mới là cao thượng. Cứu vớt người thiên chấp nơi cõi hư vô (chấp không), khơi mở cơ hội cho những kẻ đang ở chốn mịt mù tăm tối (chấp có).

Do vì tình chấp ẩn tàng nơi câu sinh nên Kim Cang là phương thuốc chữa trị. Tối thượng thừa có công năng đưa đến bờ kia, giai vị Đẳng Giác. Chỉ có Phật mới biết, chứ chẳng phải chỗ suy lường của hàng phàm phu. Khế hợp nghĩa sâu mầu này phải là bậc căn cơ thượng thượng. Xưa, tổ Hoàng Mai (Hoằng Nhẫn) chỉ nói kinh này có thể làm cho người học kiến tính. Lúc đó Lục Tổ Huệ Năng quả nhiên ngay trong một câu kinh này liền biết lối về (ngộ nhập). Hoa năm cánh đã nở, nhiều người nắm được tâm ấn Như Lai. Một ngọn đèn thiền tiếp nối, gọi riêng là truyền ngoài giáo điển. Ngộ không do Thầy, nhưng ngữ cú của các thiền sư phần nhiều phù hợp với kinh. Cơ phong chợt lộ bày như ánh sáng thanh bảo kiếm lung linh. Chiếu dụng cùng phô như màu sắc châu ma-ni lấp lánh. Năm trăm năm rốt sau trong thời mạt pháp vẫn có người tin, chớ nói không có người; cũng như thọ trì bốn câu kinh thôi, rốt cuộc sẽ được ngộ nhập.

Phụng Nghi tôi thẹn mình sở học chưa đến chỗ chuyên tinh, kiến thức nhờ vào sự học hỏi rộng khắp. Mùi đạo khiến đẹp tấm lòng dường như hợp với sở thích đời trước, thiền duyệt làm vui tuổi già có lẽ do chẳng quên nhân duyên quá khứ.

Nay gặp nhằm thời buổi đấu tranh, tôi mạnh dạn đưa ra ý kiến hòa đồng, cho rằng tông tức giáo thì nói thao thao, nói mãi đều thuộc ngôn thuyên. Giáo tức tông thì Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền đều phải tự nhiên mất hết, tiêu dung về tự kỷ. Giơ cành hoa đâu khác gì nêu ngữ cú. Triệt ngộ mé bên kia rồi thì sở kiến sở văn đâu khác. Vậy thì Tông thông chính là chìa khóa mở kinh và Thuyết thông cũng là cửa nẻo vào ngộ. Chướng ngại đều viên dung, chân như đều hiển hiện. Ngày xưa ngài La Thập phiên dịch kinh này là biểu hiện sự đáng tin bằng cái lưỡi trà-tỳ không cháy. Minh chúa theo điềm linh dị ấy, xuống chiếu cho khắc vào bia. Một đoạn huệ mạng của chúng sinh nhờ đó được dài thêm. Cho đến “sắc kiến thanh cầu” còn lưu lại bài kệ bốn câu “như lộ như điện” còn thiếu ba dụ so với bản dịch đời Đường. Kệ luận đã có chứng cứ rõ ràng thì văn kinh đâu được thiếu sót. Vì thế tôi tham khảo bản dịch đời Đường để có cái nhìn đầy đủ. Do đó tôi giải thích lại lời kệ kèm vào cuối sách.

Vừa rồi, do cha tôi bất chợt qua đời, hằng ngày tôi tụng kinh Kim Cang và nghiên cứu tìm hiểu lúc ở tại nhà mồ, rồi biên tập thành bộ sách này. Mong được chút ân mưa mốc thấm nhuần vào nắm xương khô của cha hiền. Nương nhờ Kim Cang để dấu hình hài, còn như trông mong vào hang Thanh Lương thì tôi đâu dám! Tình cờ tên núi tương tự với nhau, lại nhờ sức huân của Bát-nhã nên pháp và địa đều linh, kẻ mất người còn mãi mãi đều được lợi ích.

Kính đem khắc bản rộng rãi lưu thông, nếu có ai thủ chứng vô sinh thì tôi vô cùng trân trọng tri ân.

Núi Nam Nhạc, Kim Giản
Tăng Phụng Nghi, tự Thuấn Trưng

Kính đề

view(811)