HUỲNH MAI PHẬT MÔN LIÊN TẬP

Posted by Thông Thiền on Wed, 31/12/2025 45:19

LỜI GIỚI THIỆU

 

1 Nguồn gốc xuất xứ

Vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, miền Nam Việt Nam (nhất là Nam Kỳ Lục tỉnh) là nơi quy tụ nhiều bậc cao tăng không chỉ tinh thông giới luật mà còn giỏi thơ văn, câu đối và đặc biệt có công dịch Kinh – Luận từ chữ Hán sang Nôm hoặc Quốc ngữ để hoằng truyền chánh pháp đến đại chúng. Những gương mặt tiêu biểu là: HT. Khánh Hòa, HT. Như Phong – Tịnh Hải, HT. Thiện Chiếu, HT.  Huệ Quang, HT. Như Trí, HT. Huệ Lưu, HT. Khánh Anh, HT. Từ Phong, HT.Trí Tịnh, HT. Đức Nhuận, HT. Đạt Hảo, HT. Thanh Sơn… Đặc điểm chung của các vị Hòa thượng trên là thông Hán học, Nôm học, Quốc ngữ. Dịch kinh – viết luận – làm thơ – viết báo. Dịch xuôi (văn xuôi), dịch vần (lục bát, song thất), văn biền ngẫu. Hoằng pháp cho đại chúng, cải tổ Tăng đoàn, phát triển Phật giáo bình dân. Trong đó có HT. Đạt Hảo là người biên tập quyển sách này.

Hòa thượng thế danh là Lê Văn Bân, pháp danh Tánh Tướng, pháp hiệu Đạt Hảo, sinh năm Đinh Tỵ (1917), mất năm 1996, truyền nhân đời thứ 50 của tông Thiên Thai Giáo Quán, Trụ trì chùa Pháp Quang.

Chùa Pháp Quang, tọa lạc tại số 71 đường Quốc lộ 50, phường 5, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, do Hòa thượng Thích Đạt Hảo trụ trì là cơ sở cách mạng của liên quận 7, 8 trong giai đoạn 1963 - 1975. Tác phẩm Huỳnh Mai Phật Môn liên tập (黃梅佛門聯集) do Ngài gom chép và sáng tác bằng chữ Hán Nôm từ thập niên 1960 đến 1990 tại ngôi chùa này. Vào năm 1996, Ngài tặng nó cho Hòa thượng Thích Nhật Quang Trụ trì Thiền viện Thường Chiếu, số 1C, Ấp 1C, xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai .

Năm 2015, Hòa thượng Trụ trì Thường Chiếu trao cho người dịch chuyển sang Việt ngữ với tựa đề “Tuyển tập liên văn Phật Môn Huỳnh Mai”. Đây là dịch phẩm mà Quý vị đang có trong tay.

2. Hoàn cảnh ra đời

Đây có thể xem là tập tùy bút của Hòa thượng Thích Đạt Hảo khi Ngài du phương các tỉnh ở miền Nam nước Việt. Đến chùa hay tự viện, thiền viện nào có các cặp liễn đối hay dùng để trang trí cho cổng Tam quan, Chánh điện, Tổ đường, Khách đường, Trai đường và các pháp sự trong các ngày lễ lớn như Thượng ngươn, Trung ngươn, Hạ ngươn do những vị Trụ trì kiến thiết các ngôi già lam đặt ra, Ngài liền ra công biên chép lại. Bên cạnh đó, Ngài còn sưu tập một số bài kinh ngắn, các bài văn Nôm, thi ca, các bài thơ xướng họa giữa Hòa thượng với các pháp hữu của mình.

Quyển Huỳnh Mai Phật Môn liên tập (黃梅佛門聯集) gồm nhiều thể loại: Văn xuôi, Thơ, Câu đối. Trong mỗi thể loại có nhiều thể tài như phần Mục lục đã nêu.

Thiên một là phần văn xuôi, hình thành từ sự kết tập các bài văn xuôi trong Đại Tạng kinh và các bài văn Nôm của các Hòa thượng khác ở miền Nam cùng 6 bài văn xuôi do Hòa thượng Đạt Hảo diễn Nôm.

Thiên hai là phần thơ do Ngài làm và các Hòa thượng ở khắp ba miền là pháp hữu của Ngài họa lại.

Thiên ba là phần câu đối, hoành phi là do Ngài sưu tầm. Tất cả đều được chính Hòa thượng viết chân phương, nét chữ thanh mảnh.

Chùa Pháp Quang là một di tích mang giá trị lịch sử được xây dựng vào năm 1948 và các đời Trụ trì nối tiếp, trong đó có Hòa thượng Đạt Hảo đều mang truyền thống cách mạng trong lòng, nên tinh thần yêu nước bàng bạc trong phần thơ và câu đối của tập sách. Từ đó tập sách Huỳnh Mai Phật Môn liên tập này ra đời.

3. Về bản dịch

Về nội dung tập sách, người dịch có sắp xếp lại theo thứ tự thành thiên, chương, mục, tiểu mục…
và chú thích rõ xuất xứ nhân danh, địa danh cùng chú giải những chỗ văn Nôm khó hiểu. Như phần “Văn xuôi” chữ Hán, thì không có vấn đề, tuy nhiên phần văn Nôm, bởi các Hòa thượng sử dụng văn phong vào thế kỷ trước (hậu bán thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX) nên rất khó hiểu. Vì thế, người dịch vẫn tôn trọng phần diễn Nôm của các Ngài, nhưng bên cạnh đó, để làm sáng nghĩa nên có thêm phần giải thích trong ngoặc vuông, đổi font và tô xanh, tức giải nghĩa cho đoạn văn bản được gạch chân.

Ví dụ: Hạt ngọc kia nó lõi [bên trong có tỳ vết], chẳng gặp đặng anh thợ giỏi, nó phải chịu làm một cục đá chai [hòn đá chai cứng]. Đứng làm con người không học cũng như cục thịt biết đi, thây chết kia biết chạy. Thí như bình phong cảnh [tấm gương] … và người miền Nam thuở trước hay dùng chữ “đặng” để thay chữ “được” .

Trong phần “Thơ” và “Câu đối” chữ Hán của quyển sách này, bởi Hòa thượng Đạt Hảo là người miền Nam khi biên soạn dùng văn phong phải là của người phương Nam, nên được dịch sang quốc âm như sau:

Thay “phúc” → “phước”, “tuệ” → “huệ”, “mệnh” → “mạng”, “bách” → “bá”, “tính” → “tánh”, “thật” → “thiệt”, “sinh” → “sanh”, “uy” → “oai”, “trường” → “tràng” (nơi, chỗ) như đạo tràng, nhưng trong trường hợp “tuyển Phật trường” thì đọc “trường”.  Và người dịch có thêm chú giải những thuật ngữ văn học cổ khó hiểu ngay sau âm và nghĩa của các câu đối.

Kính mong giác linh các cố Hòa thượng tác giả hoan hỷ thương xót mà lượng thứ.

Cuối cùng, xin thành kính tri ân Hòa Thượng thượng Nhật hạ Quang, Trưởng ban Quản trị Tông môn Thiền phái Trúc Lâm đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho người dịch tiếp xúc văn bản, khuyến khích biên dịch tập sách này. Người dịch xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường đã góp ý sửa chữa, Sư cô Hải Ngọc, Phật tử Hải Long, Thanh Hiền, Phi Anh, Thanh Hà đã hỗ trợ rà soát và trình bày hoàn chỉnh dịch phẩm.

Chơn Không, ngày 23 tháng 9 năm 2025

                        Thông Thiền kính ghi

 

view(128)

0 Comments

Add new comment