ĐƯỜNG VÀO THIỀN HỌC
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ
Đời Nguỵ, Thái phó Chung Do đầu tiên biên tập quyển Thiên Tự Văn, Hữu tướng quân Vương Hi Chi phụng sắc chép lại. Sách này rất được vua Tấn Võ Đế trân trọng. Đến thời Nam Bắc triều bị vua Tống Văn Đế phá hoại khiến cho không thể hiểu nổi. Về sau vua Lương Võ Đế sai Chu Hưng Tự họa vần làm cho nó trở lại nguyên vẹn như cũ. Thể tài của nó là thơ cổ bốn chữ, 250 câu, gồm có 1000 chữ, thứ lớp hoàn chỉnh không trùng lặp một chữ.
Quyển Tông Môn Thiên Tự Văn là nguyên tụng của Chung Do, được Hoà thượng Trúc Tiên làm thơ vịnh thuật về giáo nghĩa và lịch trình của Thiền tông vào niên hiệu Lịch Ứng thứ 2 ( 1328 ). Văn tự tuy phong phú trang nhã nhưng thứ tự lộn xộn không chỉnh tề, khó tránh khỏi sự chê bai của những người thích văn chương trau chuốt sáo rỗng. Sau do đáp ứng lời thỉnh của mọi người, sư nhiệt tình chú thích kỹ càng, mỗi câu chêm vào chú giải cốt để tiện ích cho kẻ đồng mông (người chưa hiểu biết gì). Còn làm thêm 20 câu “Thích vấn” đặt ở cuối sách. Sách này tuy khó tránh khỏi bị chê là sa vào thiền văn tự, nhưng vì thương xót kẻ mới học, xuất phát từ lòng từ bi mới dùng phương tiện để cử dương tông yếu.
Tác giả là Phạm Tiên, tự Trúc Tiên, hiệu Lai Lai Thiền Tử. Sư người huyện Tượng Sơn, Minh Châu ( nay là huyện Tượng Sơn, tỉnh Chiết Giang), con của ông Từ Cảnh Dương, sinh vào niên hiệu Chí Nguyên thứ 29 (1292),đời Nguyên . Sáu tuổi sư đi học, mười tuổi tìm đến chùa Tư Phước ở Ngô Hưng làm Khu ô sa-di. Năm 18 tuổi nương theo Ẩn Công chùa Linh Sơn ở Hàng Châu thọ công điệp, lễ bái Thiền sư Hổ Nham Phục xin xuống tóc. Đi du phương, ban đầu tham học các bậc lão túc như Hối Cơ, Vân Ngoại, Cảnh Nguyên, Đông Tự, Chỉ Nham, Trung Phong. Về sau nghe Hoà thượng Cổ Lâm Mậu ở Bảo Ninh đề xướng sư hoát nhiên đại ngộ. Từ đó về sau, sư giảng thuyết kinh sách thật trong sáng, thanh lương; tiếng tăm lừng lẫy.
Trong khi Sư trở về Đông Chiết, lên núi Kính Sơn, gặp lúc Hòa thượng Minh Cực đi Nhật Bản, sư xin đi theo. Vào tháng 6 niên hiệu (1329) Nguyên Đức nguyên niên (Nhật Bản) sư đến phủ Thái Tể ở Nhật Bản lúc 37 tuổi. Tháng 2 năm sau, sư đến Liêm Thương ở Tương Châu, ngụ ở chùa Kiến Trường, gặp gỡ Bắc Điều Cao thời cảm thấy như biết nhau từ lâu. Minh Cực trụ chùa Kiến Trường, sư làm Đệ nhất tọa. Niên hiệu Kiến Vũ nguyên niên ( 1334 ) sư trụ trì chùa Tịnh Trí, tìm chỗ xây tháp cho tuổi già tại viện Lăng Già dưới đỉnh núi Thiên Trụ. Niên hiệu Diên Nguyên thứ 3 (1338), sư khai sơn chùa Vô Lượng ở Quan Đông. Niên hiệu Hưng Quốc thứ 2 (1341), sư nhận lãnh chùa Nam Thiền ở Kinh Đô, rút lui khỏi chùa Chân Như, nhiều lần dời qua chùa Kiến Trường. Tháng 4 niên hiệu Chính Bình thứ 3 (1348), sư có bệnh nên chối từ mọi việc, ngày 16 tháng 7 tịch diệt nơi viện Lăng Già chùa Tịnh Trí, thọ 57 tuổi, tuổi hạ 39. Tác phẩm: Tông Môn Thiên Tự Văn, Ngữ lục 2 quyển. Ngoài ra có Thiên Trụ Tập chính là tập thi văn của sư, do Từ Lâm truyền bá.


0 Comments
Add new comment