HÁM SƠN ĐỨC THANH

Posted by tranminhhuydn on Mon, 29/04/2013 38:00

HÁM SƠN ĐỨC THANH 憨 山 德 清

(1546-1623)

Thiền sư đời Minh, là một trong bốn vị Cao tăng lớn cuối thời ấy, người Toàn Tiêu-An Huy. Năm 12 tuổi, Sư đến chùa Báo Ân ở Nam Kinh học kinh điển. Sư tinh thông Phật học và Lão Trang. Năm 19 tuổi thọ cụ túc giới. Cả một đời Sư hoằng dương Phật pháp, trùng tu Tổ đình, tuyển tăng truyền giới, lập nghi thức, nuôi Sadi, thiết lập Khố ty thanh quy, đại chấn tông phong chư Tổ. Người sau xây dựng tháp ở sườn núi Thiên Tứ-Nam Hoa. Người đời gọi Sư là Đại sư Hám Sơn.

 


 

Tư tưởng Sư dung hợp giữa Thiền và Kinh Hoa Nghiêm, đề xướng thuyết Thiền và Tịnh không sai khác, tam giáo đồng về một nguồn. Học thức Sư uyên bác, có nhiều trước tác, chẳng phải người thường có thể sánh kịp.

Tác phẩm: Hoa Nghiêm cương yếu (80 quyển), Lăng Nghiêm thông nghĩa (10 quyển). Ngoài ra có những tác phẩm do đệ tử Ngài chép lại thành thiên như: Hám Sơn mộng du tập (50 quyển), Hám Sơn pháp ngữ (20 quyển).

Thơ văn ý tứ rất cao. Sau Sư viên tịch ở Tào Khê để lại xá lợi toàn thân cho người đời sau chiêm ngưỡng.

丁大參回舟中述懷

江州芳草正萋萋, 已到津粱路不迷.
萬里乾坤孤杖外,片帆風雨大江西.
暫容蹤迹同魚鳥,終是形骸似木鷄.
遥望五潮烟浪闊,不堪回首白雲低.
 

ĐINH ĐẠI THAM HỒI CHU TRUNG THUẬT HOÀI

Giang châu phương thảo chánh thê thê,
Dĩ đáo tân lương lộ bất mê.
Vạn lý càn khôn cô trượng ngoại,
Phiến phàm phong vũ đại giang tây (tê)

Tạm dung tung tích đồng ngư điểu,
Chung thị hình hài tợ mộc kê.
Diêu vọng ngũ triều yên lãng khoát,
Bất kham hồi thủ bạch vân đê.

Phương thảo thê thê (cỏ mọc um tùm) trong câu đầu chỉ ra thời tiết đang vào xuân. Ở đây vẫn tiếp tục sử dụng câu “Phương thảo thê thê Anh Vũ châu” (Bãi Anh Vũ cỏ mọc um tùm) trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường, song có ý biểu đạt khác.

Dĩ đáo tân lương lộ bất mê. Câu này hàm chứa lý Thiền. Thường thì người ta “Chìm đắm trong biển rộng của thức tình ái dục, bị mê hoặc bởi núi cao danh lợi ăn ngủ” quên thật nhận bóng, chấp giả làm chơn; thiền giả chính là: Giải các nghi ở biển tánh/ Mở diệu giác nơi bến mê (Khuếch quần nghi vu tánh hải/ khải diệu giác vu mê tân). Tự giác giác tha, bi trí đồng hành.

Vạn lý càn khôn cô trượng ngoại, phiến phàm phong vũ đại giang tây (tê). Thiền sư có khí thế hùng hồn siêu phàm thoát tục. Ngài Đức Thanh có bài thơ rằng: Thế giới đại thiên xem cũng nhỏ/ Muôn vật vốn dĩ rất bình thường (Đại thiên quán khứ tiểu/ Vạn vật tự lai khinh). Ở trong cái nhìn của Thiền sư, rộng hẹp dung hợp với nhau, lớn nhỏ không ngăn ngại, cả vũ trụ ở trong bàn tay, vạn vật từ tâm sinh, cho nên trên muôn dặm đất trời mình ta chống gậy dạo khắp, cánh buồm vượt qua sông lớn trong gió mưa.

Tạm dung tung tích đồng ngư điểu, chung thị hình hài tợ mộc kê. Đại đạo không hình, thân của Thiền sư chỉ là “ký sanh nang” (cái túi gởi sự sống) mà thôi, các vị sớm đã không bị sự trói buộc của thân. Ký đây tức là gửi, ký sanh là tạm ở; cũng như gà cây dứt hẳn tạo tác, công đức đầy đủ.

Diêu vọng Ngũ hồ yên lãng khoát, một chữ “khoát” vừa là tả cảnh vừa là thuật hoài, biểu đạt phong thái tùy duyên tự tại phóng khoáng của Thiền sư.

Bất kham hồi thủ bạch vân đê. Quá khứ tâm không thể được, thí dụ như tiền trần, việc đã qua không vướng mắc chấp trước.

Hám Sơn Đức Thanh từng hỏi thơ với Vương Thế Trinh, với chủ trương “thơ ắt phải thịnh hành như đời Đường”. Bài thơ này ý cảnh rộng mở, khí thế mạnh mẽ, ý tứ siêu tuyệt.

 

BÀI THUẬT HOÀI CỦA ĐINH ĐẠI THAM

TRONG LÚC TRỞ VỀ THUYỀN

Giang Châu xuân đến cỏ xanh đầy
Đã đến cầu đò chẳng mê say
Muôn dặm đất trời mình ta dạo
Cánh buồm theo gió vượt Giang Tây.

Tạm lưu dấu tích như chim cá
Trọn biết hình hài tợ gà cây.
Khói sóng Ngũ hồ trông bát ngát
Chẳng chịu xoay đầu, mây trắng bay.

view(798)