C2

Posted by tranminhhuydn on Mon, 03/04/2017 39:06

CẢNH KHỐI TỬ

境塊子

Cách gọi nôm na của chữ “cảnh”.

LTNL ghi:


如善知識、把出箇境塊子、向學人面前弄。前人辨得了下作主、不受境惑、善知識便即現半身、學人便喝。

Như thiện tri thức đưa ra một cảnh, đùa trước mặt người học. Người trước mặt biện được xong, ngay đó làm chủ, chẳng bị cảnh lừa. Thiện tri thức liền hiện bán thân, người học liền hét.

CẢNH DIÊN (943-1017)

警延

Thiền sư đời Tống, vốn tên là Cảnh Huyền, họ Trương, người xứ Giang Hạ (nay là huyện Võ Xương, tỉnh Hồ Bắc) Trung Quốc. Nối pháp Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán, tông Tào Động. Thụy hiệu “Minh An Đại Sư”.

Tác phẩm: Đại Dương Minh An Đại Sư Thập Bát Ban Diệu Ngữ.

CẢNH ĐỨC TRUYỀN ĐĂNG LỤC

景德傳燈錄

Gọi tắt: Truyền Đăng lục.

Đăng lục, 30 quyển, do Đạo Nguyên soạn vào đời Tống, là một trong những bộ sử Thiền tông Trung Quốc.

Vốn có tựa đề là Phật Tổ Đồng Tham tập, được xếp vào Đại Chính Tạng tập 51, trang 196. Sách này sưu tập ghi chép về hành trạng, cơ duyên v.v… của 1701 vị, bắt đầu từ Đức Phật đời quá khứ đến các vị Tổ thuộc đời thứ 51 của Ngũ gia tông phái. Trong đó, 951 vị có phụ thêm Ngữ lục. Vì bộ sách này được vua sắc chỉ nhập tạng vào niên hiệu Cảnh Đức thứ 1 (1004) nên đặt tên là Cảnh Đức. Về pháp hệ truyền thừa giữa thầy và trò nối nhau không dứt giống như lửa của ngọn đèn có năng lực phá trừ tối tăm, nối nhau liên tục nên gọi là Truyền Đăng. Đầu quyển có bài tựa do ngài Dương Ức soạn. Nội dung toàn sách nói về sự truyền pháp Thiền như sau:

Quyển 1 và 2: Bảy đức Phật đời quá khứ và Tổ Ca-diếp truyền xuống đến Tổ thứ 17 là Bát-nhã-đa-la.

Quyển 3: Năm vị Tổ Trung Quốc: Đạt-ma, Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn.

Quyển 4: Pháp hệ chi nhánh của Tứ tổ Đạo Tín và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn như: Ngưu Đầu Thiền, Bắc Tông Thiền, Tịnh Chúng Tông v.v… và truyện ký của các vị: Pháp Dung, Thần Tú, Phổ Tịch v.v…

Quyển 5: Huệ Năng và pháp hệ của Ngài.

Quyển 6: Mã Tổ Đạo Nhất và Bách Trượng Hoài Hải.

Quyển 7: Nga Hồ Đại Nghĩa và Ma Cốc Bảo Triệt.

Quyển 8: Gồm 54 vị như: Nam Tuyền Phổ Nguyện…

Quyển 9: Gồm 30 vị nối pháp ngài Hoài Hải…

Quyển 10: Gồm các vị nối pháp ngài Nam Tuyền như: Triệu Châu Tùng Thẩm…

Quyển 11: Các đệ tử nối pháp của ngài Quy Sơn Linh Hựu, Tổ tông Quy Ngưỡng.

Quyển 12: Lâm Tế Nghĩa Huyền, Tổ tông Lâm Tế.

Quyển 13: Pháp hệ của tông Hà Trạch. Truyện ký về ngài Trừng Quán và ngài Tông Mật thuộc tông Hoa Nghiêm.

Quyển 14: Thạch Đầu Hy Thiên và pháp hệ.

Quyển 15: Động Sơn Lương Giới.

Quyển 16: Các đệ tử nối pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám.

Quyển 17: Pháp hệ tông Tào Động.

Quyển 18, 19: Pháp hệ của ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn.

Quyển 20: Pháp hệ của ngài Tào Sơn Bản Tịch.

Quyển 21: Pháp hệ của ngài Huyền Sa Sư Bị.

Quyển 22, 23: Pháp hệ của tông Vân Môn.

Quyển 24, 25, 26: Pháp hệ của tông Pháp Nhãn.

Quyển 27: Các Thiền sư nổi tiếng không thuộc bất cứ tông phái nào.

Quyển 28: Các ngữ lục đặc biệt của 11 vị Thiền sư như: Nam Dương Huệ Trung, Hà Trạch Thần Hội v.v…

Quyển 29 tựa đề là Tán Tụng Kệ Thi gồm tất cả kệ tụng của 17 vị như: Bạch Cư Dị…

Quyển 30 tựa đề là Minh Ký Châm Ca gồm tất cả 13 loại: Tọa Thiền Châm, Chứng Đạo Ca… Sách này có 1 bản khắc lại: Tư Giám Trùng San, khắc lại vào đời Nam Tống, năm 1134. Hy Vị Trùng San, khắc lại vào đời Nguyên, năm 1316.

Quyển Đăng lục này là tư liệu căn bản để nghiên cứu sử Thiền tông Trung Quốc.

CẢNH GIỚI

境界

1. Đối tượng của cảm giác, nhận thức nhờ 6 thức: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.

2. Cảnh địa đạt đến do nhận thức.

3. Thật tướng của sự vật được bậc tu hành giác ngộ nhận thức, thể nghiệm.

Còn gọi: Chân cảnh giới.

CẢNH HÂN

景欣

Thiền sư đời Đường, người xứ Tuyền Châu, nối pháp Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư.

CẢNH HIẾN (?-1381)

景瓛

Thiền sư sống vào cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, họ Dao, tự Oánh Trung, hiệu Tiếu Hiên, người xứ Túy Lý (nay là huyện Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc, nối pháp Thiền sư Sở Thạch.

CẢNH HUYỀN (943-1027)

警玄

C:\Users\User\Desktop\canhhuyen.png

 

Thiền sư đời Tống, họ Trương, người Giang Hạ, Hồ Bắc, Trung Quốc, nối pháp Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán, tông Tào Động. Sư trụ núi Đại Dương, Hồ Bắc.

Tác phẩm: Đại Dương Minh An Đại Sư Thập Bát Ban Diệu Ngữ, 1 quyển.

CẢNH LONG (1391-?)

景隆

Thiền sư đời Minh, họ Trần, tự Tổ Đình, hiệu Không Cốc, người xứ Tô Châu, nối pháp Thiền sư Tú An, tông Lâm Tế.

Tác phẩm: Không Cốc tập, 30 quyển.

CẢNH LÝ CẦU HÌNH

鏡裏求形

Tìm hình trong gương.

Thuật ngữ Thiền tông chỉ cho lấy giả làm thật, uổng công vô ích.

HNNL ghi:

若也廣尋文義、猶如鏡裏求形;更乃息念觀空、大似水中捉月。

Nếu là rộng tìm văn nghĩa thì giống như tìm hình trong gương; còn ngưng nghỉ ý niệm để quán không thì giống như mò trăng đáy nước.

CẢNH NGUYÊN (1094-1146)

景元

Thiền sư sống vào cuối đời Bắc Tống – đầu đời Nam Tống, họ Trương, hiệu Thử Am, người xứ Vĩnh Gia, Ôn Châu (nay là huyện Vĩnh Gia, tỉnh Chiết Giang) Trung Quốc.

Năm 18 tuổi, sư nương Thiền sư Linh Sơn Hy Củng để cạo tóc xuất gia rồi nghiên cứu kinh điển, trì luật, tự cầu tinh tiến. Năm kế, sư được thụ giới cụ túc. Ban đầu, sư tu tập Thiên Thai giáo quán 3 năm. Sau đó, vâng lời thầy, sư đến Giang Tây, Hồ Nam để tìm thầy tham học. Niên hiệu Kiến Viêm thứ 1 (1117) sư lên núi Vân cư ở Giang Tây, ra mắt Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần, được Ngài bảo làm thị giả. Chưa bao lâu, Sư ngay nơi lời nói của ngài liền đại triệt ngộ, được nối pháp ngài, thuộc tông Lâm Tế. Từ đó, Sư càng cần khổ tu luyện, biện luận tài tình, thời đó không ai địch nổi. Sư từng khai pháp ở chùa Kiến Đức tại Nam Minh Sơn, rồi dời sang chùa Hộ Quốc ở Thai Châu, hoằng tông truyền giáo, pháp hội đại thạnh, tiếng tăm vang dội. Lúc sắp thị tịch, Sư gọi sư điệt là Ứng Am Đàm Hoa đến trước mặt, bảo phải làm Tọa nguyên, dặn dò hậu sự xong, trong phút chốc nắm tay lại rồi thị tịch.

CẢNH NHƯ

景如

Thiền sư đời Tống, nối pháp Thiền sư Trí Hồng ở núi Đại Long, Đảnh Châu (nay là huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc.

CẢNH PHONG

境風

    Gió cảnh. Cảnh giống như gió hay làm tâm động.

Tiết Bạch Dương Pháp Thuận Thiền sư trong NĐHN q. 10 ghi:

染緣易就、道業難成、不了目前、萬緣差別。只見境風浩浩、凋殘功德之林、心火炎炎、燒盡菩提之樹。

Nhiễm duyên dễ dính mắc, đạo nghiệp lại khó thành. Chẳng rõ cái trước mắt nên muôn duyên sai biệt. Chỉ thấy gió cảnh ào ào thổi hư rừng công đức; lửa tâm hừng hực cháy sạch cội Bồ-đề.

CẢNH SẦM

景岑

Thiền sư đời Đường, pháp danh Chiêu Hiền, và sư lấy đây làm hiệu của mình, nối pháp Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện.

Bởi cơ phong cao vút, và khi ứng cơ sư thích làm thế cọp vồ nên Ngưỡng Sơn nói sư giống như cọp. Từ đó các nơi gọi sư là “Sầm đại trùng” (Con cọp Sầm).

CẢNH THÔNG

景通

Thiền sư đời Ngũ Đại.

Ban đầu sư tham vấn Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, bị ngài đánh cho 4 roi mây, nhân đó sư tự xưng là “Tập Vân Phong hạ tứ đằng điều thiên hạ Đại Thiền Phật”.

CẢNH TƯỜNG (1061-1131)

景祥

Thiền sư đời Tống, họ Truyền, người xứ Nam Phong (nay thuộc tỉnh Giang Tây) Trung Quốc nối pháp Thiền sư Đại Quy Mộ Triết, tông Lâm Tế.

CẠNH ĐẦU

競頭

Tranh giành nhau. Nhộn nhịp.

Tiết Sở An Huệ Phương Thiền sư trong NĐHN q. 10 ghi:

張公會看脈、

李公會使藥、

兩箇競頭醫、

一時用不得。

Ông Trương biết xem mạch,

Ông Lý biết hốt thuốc;

Hai thầy lang giành nhau,

Tạm thời dùng chẳng được.

CAO ĐỆ

高弟

Học trò giỏi được vị thầy ưng ý nhất.

TMVK ghi:

谷山禪師、眞凈高弟也。

Thiền sư Cốc Sơn Tổ là cao đệ của ngài Chân Tịnh.

CAO LƯU

高流

Chỉ chung cho hàng sĩ phu cao thượng.

Lược Tự Tứ Tông Đốn Tiệm Nghĩa trong PDNL ghi:

非四依三德之高流、寧得弘通於大教。

Nếu chẳng phải hạng cao lưu có đủ 3 đức và 4 y (4 chỗ nương), đâu được hoằng thông đại giáo.

CAO MÂN TỰ

高旻寺

Chùa Cao Mân, nằm bên bờ phía Tây của sông Tam Xoa, ngoài cửa Nam của thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Đây là l trong 8 ngôi chùa lớn nổi tiếng ở Dương Châu vào đời Thanh. Tương truyền chùa được xây dựng vào đời Tùy, về sau trải qua nhiều lần trùng tu. Niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) đời Thanh, chùa được Tổng đốc Nam Hà là Ngô Duy Hoa xây cất lại. Niên hiệu Khang Hy thứ 38 (1699), nhờ Lưỡng Hoài Diêm Thương quyên góp trùng tu. Tương truyền vua Khang Hy từng lên tháp Trung Thiên của chùa này và xây hành cung trong khuôn viên chùa vào năm 1699. Năm 1703, Vua ban bảng hiệu “Cao Mân Tự” do chính vua viết. Chùa có liễn hoành do vua viết, có thơ do vua làm và tượng Phật bằng kim nhũ do vua vẽ. Chùa có quan hệ mật thiết với nhiều triều đại của nhà Thanh. Pháp hệ chùa này thuộc phái Dương Kỳ tông Lâm Tế, bắt đầu từ ngài Ngọc Lâm Thông Tú (đệ tử của ngài Thiên Ẩn Viên Tu cuối đời Minh), sau đó truyền bốn đời đến ngài Thiên Huệ Thật Triệt, vị này trùng hưng chùa Cao Mân. Chùa này và hai chùa Kim Sơn, Thiên Ninh là ba tùng lâm lớn của tông Lâm Tế. Năm 1915, Thiền sư Lai Quả đến chùa này, quyết chí khôi phục quy chế Cao Mân. Sư phái người mộ hóa ở Đông Nam Á, thỉnh được 78 tượng ngọc Phật, 1 tượng Phật bằng đồng. Sư còn chấn chỉnh quy củ tòng lâm, đặt ra “Cao Mân Tự Quy Ước”.

CAO PHONG NGUYÊN DIỆU THIỀN SƯ NGỮ LỤC

高峯原妙禪師語錄

Còn gọi: Cao Phong Đại Sư ngữ lục.

Ngữ lục, 1 quyển, do Nguyên Diệu soạn vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng kinh tập 111, trang 653.

Nội dung bao gồm: Pháp ngữ thị chúng ở Song Kết Am, Hồ Châu, Ngữ yếu khai đường ở chùa Sử Tử Thiền, núi Tây Thiên Mục, Niêm cổ, Bổ di, Kệ tụng, Tán Phật Tổ, Hành trạng, Tháp minh, Âm thích. Dương Nhân Sơn bảo quyển ngữ lục này “Chỉ thẳng cội nguồn, vượt ra khuôn sáo, khiến người phát nguyện mạnh, lập chí lớn”.

CAO PHONG NGUYÊN DIỆU THIỀN SƯ THIỀN YẾU

高峯原妙禪師禪要

Còn gọi: Cao Phong Hòa thượng thiền yếu.

Ngữ lục, 1 quyển, do Nguyên Diệu soạn vào đời Nguyên, Hồng Kiều Tổ biên tập vào đời Nguyên, được xếp vào Tục Tạng kinh tập 111, trang 701.

Nội dung nói rõ yếu chỉ của việc tham thiền học đạo gồm: Khai đường phổ thuyết, Pháp ngữ thị chúng, Tiểu tham đêm 30, Thư từ. Sách chú thích quyển ngữ lục này có Cao Phong Hòa thượng Thiền Yếu Tư Ký, 1 quyển, do Bạch Pha Tuyên Truyền (là vị sư người Triều Tiên) soạn.

CAO TÂM

高心

Tự cao tự đại.

ĐCNL q. hạ ghi:

傲物高心者我壯、執空執有者皆愚。

Người tự cao tự đại khinh chê kẻ khác thì tăng thêm ngã chấp, còn người chấp không chấp có đều ngu.

CAO TÚC

高足

Học trò giỏi.

Lời nói kính trọng, nói về học trò của người đối thoại.

VCSC ghi:

時住持古公乃靈源禪師高足。

Lúc ấy Cổ Công làm Trụ trì, vốn là cao túc của thiền sư Linh Nguyên.

CÁO BÁO

告報

Kể ra, nghị luận.

MANL ghi:

靈利漢。聞與麼告報。慣戰良馬。聞鑼鼓聲。渾身痒簇簇地。千人萬人。羅籠不住。

Người linh lợi nghe kể như thế, giống như con ngựa giỏi quen chiến trận nghe tiếng chiêng trống. Toàn thân nó ngứa ngáy rần rần, ngàn người muôn người không thể khống chế nổi.

CÁO HƯƠNG

告香

Nghi thức cung thỉnh bậc thầy khai thị hoặc giảng dạy cho đại chúng bằng cách người học cắm hương dâng lên thầy.

- Cáo hương bài: Tấm bảng treo để thông báo nghi thức cáo hương cho đại chúng biết, nhưng trước khi treo Cáo hương bài phải trình và được sự cho phép của thầy trụ trì.

- Cáo hương đồ: Biểu đồ phối trí nhân sự khi cáo hương.

Theo: PQĐTĐ nhóm Từ Di

CÁO VÃNG TRI LAI

告往知來

Cho biết việc quá khứ liền biết chuyện vị lai, hàm ý nghĩa linh lợi mẫn tiệp.

Tiết Cốc Sơn Hải Thiền sư trong NĐHN q. 19 ghi:

一舉不再說、已落二三。相見不揚眉、翻成造作。設使動絃別曲、告往知來、見鞭影便行、望剎竿回去、腳跟下好與三十棒!

Một khi nêu lên không nói lại thì đã rơi vào đầu thứ hai, thứ ba. Gặp nhau không nhướng mày thì trở thành tạo tác. Cho dù nghe khảy đàn liền biết rõ diệu khúc, cho biết việc quá khứ liền biết được chuyện vị lai, thấy bóng roi liền chạy, xa trông cột phướn chùa bèn quay về, dưới gót chân vẫn đáng cho ăn 30 gậy.

CẢO CÔNG THIỀN SƯ THÁP

杲公禪師塔

Tháp của thiền sư Cảo Công, nằm trongkhuôn viên tháp, phía Tây bắc chùa Phật Quang, núi Ngũ Đài, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Là mộ tháp của Thiền sư Cảo Công được xây vào niên hiệu Thái Hòa thứ 5 (1205) đời Kim. Tháp cao khoảng 5m, là một tòa tháp một tầng xây bằng gạch bông theo kiểu đình các. Phần dưới của tháp là tòa Tu-di, phần trên của tháp là hình bát giác. Trên thân tháp dùng gạch để xây đấu củng nâng đỡ mái tháp. Mái tháp dùng gạch chồng diêm, nâng đỡ phần trang trí hình răng cưa lăng giác ba tầng. Đấu củng và mái tháp rất lớn, nâng đỡ bó hoa sen năm tầng tám cánh. Bó hoa cũng rất to cơ hồ chiếm 1/3 toàn tháp. Đỉnh tháp dùng gạch chồng diêm ngược, thu lại thành tháp sát. Mặt tiền của tháp trên ngạch cửa có đề bài ký, tại mặt bên của tháp có bài minh nói về tháp của Thiền sư Cảo Công.

CÁT ĐẰNG

葛藤

Dây leo.

Thuật ngữ Thiền tông chỉ cho văn tự ngữ ngôn, vốn được dùng để diễn tả giải thích sự tướng, nhưng trái lại, nó cũng thường làm vướng mắc, trói buộc người chưa ngộ, giống như dây leo bò lan, đan xen lẫn nhau.

Tắc 31, BNL ghi:

古人葛藤、試請舉看!

Cát đằng của cổ nhân, thử nêu ra xem!

Ngoài ra, Cát đằng còn chỉ cho câu nói khó lý giải được trong công án và còn chuyển thành nghĩa nói về trình độ vấn đáp. Nhàn cát đằng: Câu nói bỡn cợt, vô dụng.

CÁT ĐẰNG QUẬT

葛藤窟

Hang dây leo.

Thuật ngữ Thiền tông chỉ cho lời nói lòng vòng, lải nhải không dứt.

Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền sư trong NĐHN q. 19 ghi:

且道:天台南嶽說箇什麼法門?廬山出來道:你兩箇正在葛藤窠裏!不見道:欲得不招無間業、莫謗如來正法輪。

Thử hỏi Thiên Thai và Nam Nhạc nói pháp môn gì?… Lô Sơn bước ra nói: Hai vị ấy đang lải nhải không dứt! Chẳng thấy nói: Muốn khỏi nghiệp vương muôn kiếp lụy. Vành xe chính pháp chớ chê cười.

CÁT ĐẰNG SÀNG TỬ

葛藤桩子

Giường dây leo.

Thuật ngữ Thiền tông chỉ cho thiền sư nhiều lời. Đây là lời nói hàm ý chê cười.

TMVK ghi:

雲居舜老常譏天衣懷禪師說葛藤禪。一日、聞懷遷化、於法堂上合掌云:且喜葛藤桩子倒了也。

Thuấn lão phu ở Vân Cư thường chê thiền sư Thiên Y Hoài nói thiền nhiều lời. Một hôm, ngài nghe Hoài thị tịch, liền ở trên pháp đường chắp tay nói rằng: May mắn thay, thiền sư nhiều lời ngã xuống rồi!

CÁT ĐẰNG THIỀN

葛藤禪

Thiền nhiều lời.

TMVK ghi:

雲居舜老常譏天衣懷禪師說葛藤禪。

Thuấn Lão phu ở Vân Cư thường chê thiền sư Thiền Y Hoài nói thiền nhiều lời.

CÁT TIỆT HƯ KHÔNG

割截虛空

Chia cắt hư không.

Ý nói vọng đem chia cắt sự vật vốn chẳng thể chia cắt.

Tiết Tục Nghệ Ngôn trong NHQL q. 30 ghi:

門風之別、所宗有五、其實皆一道也。故眞知臨濟者、決不非曹洞;眞知曹洞者、決不非臨濟是知大道惟公、法無偏黨。後世妄生人我、割截虛空、嗣臨濟者謗曹洞、嗣曹洞者謗臨濟、破滅法門、自喪慧命、豈不深可痛哉!

Tuy có 5 tông phái khác nhau, kỳ thực đều là một đạo. Vì người nào thật biết Lâm Tế chắc chắn là biết Tào Động; ai thật biết Tào Động chắc chắn là biết Lâm Tế… mới biết đại đạo công bằng, pháp không thiên lệch. Người đời sau vọng sinh nhân ngã, chia cắt hư không. Người nối pháp Lâm Tế thì chê bai Tào Động, người nối pháp Tào Động thì chê bai Lâm Tế. Họ phá hỏng tông phái, tự vùi chôn huệ mạng, há chẳng đau đớn sao!

CĂN CƠ

根機

Tư chất của người có năng lực tu hành.

Căn cơ quyết định sự tiến thoái của đời tu, sự hưng phế của giáo pháp Vì tính là gốc rễ của con người, ví như rễ cây, cho nên gọi là Căn; chỗ phát khởi của căn gọi là Cơ.

CĂN KHÍ

根器

Tố chất tiếp nhận và truyền thừa Phật pháp.

DTNL q. 3 ghi:

今時學者根器不齊。

Người học đạo ngày nay căn khí không như nhau.

CĂN THỨC

根識

Căn khí, tài năng và kiến thức.

Tiết Tham chính Lý Bính cư sĩ trong NĐHN q. 20 ghi:

顧惟根識暗鈍、平生學解、盡落情見。

Căn khí, tài năng và kiến thức của Cố Duy tối tăm chậm lụt, học giải cả đời hoàn toàn rơi vào tình kiến.

CĂN TÍNH

根性

Thói quen huân tập và làm phát sinh ra nghiệp thiện ác của chúng sinh.

Căn là có năng lực phát sinh. Tính là thói quen huân tập.  

CĂN TƯ

根思

Tố chất tiếp nhận truyền thừa Phật pháp và tính cách lãnh ngộ

Tiết Phụng Hoàng Tùng Thâm Thiền sư trong NĐHN q. 8 ghi:

學人根思遲回、方便門中乞師傍瞥。

Học nhân căn khí và ngộ tính chậm chạp, trong môn phương tiện xin thầy dạy thêm.

CĂNG THỨC

矜式

Khuôn phép. Căng nghĩa là kính, thức là phép tắc. Gộp chung là khuôn phép.

TLBH q.1 ghi:

英邵武曰:晦堂師兄。道學爲禪衲所宗。猶以尊德自勝爲樂。以未見未聞爲媿。使叢林自廣而狹於人者有所矜式豈小補哉。

Anh Thiệu Vũ nói: Phần đạo học của sư huynh Hối Đường được các Thiền sư cho là vào bậc thầy, thế mà ngài còn lấy đức tính tự thắng làm vui, lấy điều chưa thấy chưa nghe làm xấu hổ, để làm khuôn phép cho từng người hoặc khắp cả tùng lâm. Đó há là điều bổ ích nhỏ bé sao?

CẤM ĐÔNG BẤT CẤM HẠ

禁冬不禁夏

Chỉ cho việc tu sĩ Phật giáo thực hành chế độ Đông an cư (từ rằm tháng 10 đến rằm tháng 1 năm sau), tu tập ở trong tự viện.

CẤM HẠ BẤT CẤM ĐÔNG

禁夏不禁冬

Chỉ cho việc tu sĩ Phật giáo tu tập trong tự viện vào mùa hạ (từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7), không được ra ngoài du phương hành cước.

CẤM TÚC

禁足

1. Chuyên ở một nơi để tham thiền, không ra ngoài hành cước du phương.

2. Theo Âm lịch, từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7, các tu sĩ Phật giáo ở trong tự viện để tu tập, không được ra ngoài.

CẨM BAO ĐẶC THẠCH

錦包特石

Dùng tấm gấm để bọc tảng đá.

Tỷ dụ ngoài mềm trong cứng.

Thuật ngữ Thiền tông chỉ cho cơ pháp của thiền sư bên ngoài tuy mềm mỏng nhưng bên trong cứng rắn.

Tắc 14, TDL ghi:

有時鐵裏錦團、有時錦包特石;以剛決柔則故是;逢强卽弱事如何?

Có khi cục bông trong khối sắt, có khi tảng đá được bọc gấm; lấy cứng thắng mềm là lẽ đương nhiên, còn việc gặp cứng liền mềm là thế nào?

CẨM GIANG THIỀN ĐĂNG

錦江禪燈

Đăng lục, 10 quyển và mục lục 1 quyển, do Trượng Tuyết Thông Túy biên soạn vào đời Thanh, được xếp vào Tục Tạng kinh tập 145, trang 510.

Tác giả sưu tập nhiều Sử truyện, ngữ lục của các nhà trong nhiều đời, rồi dựa theo thể lệ của bộ Chỉ Nguyệt lục đem các tông họp chung một nguồn mà chẳng chia ngũ tông thất phái. Chủ yếu gom chép về các Thiền sư xuất thân từ đất Thục nhưng lại hoằng dương Thiền tông ở nơi khác, hoặc các vị quê quán ở khắp nơi nhưng thượng đường, tiểu tham, sự nghiệp, tụng cổ và dựng cờ pháp ở đất Thục, cho đến các vị cư sĩ hộ pháp trong triều ngoài nội, các Cao tăng ở ẩn nơi rừng núi, cơ duyên pháp ngữ của các Thiền sư, tính chung có trên 1.000 vị. Trong ấy, từ Sơ Tổ Đạt-ma đến đời thứ 40 sau ngài Huệ Năng có khoảng trên 800 vị thiền sư.

CÂN ĐẨU

筋斗

Nhào lộn.

Thuật ngữ Thiền tông chỉ cho trạng thái ngộ của người tham thiền.

TQST ghi:

疑情不斷、切切用心、不覺舉步翻身、打箇懸空筋斗、却再來喫棒。

Nghi tình không dứt, khẩn thiết dụng tâm, bất giác cất bước, chuyển thân nhào lộn giữa hư không, rồi trở lại đây ăn gậy.

CÂN THỊ

巾侍

Còn gọi: Cân bình.

Thị giả.

Vì thị giả cần phải để ý đến khăn áo của thiền sư dùng hàng ngày nên mới có tên là Cân thị.

Tiết Bạch Vân Thủ Đoan Thiền sư trong NĐHN q. 19 ghi:

幼事翰墨、冠依荼陵郁禪師披削、往參楊歧巾侍之久、辭游廬阜。

Lúc nhỏ theo việc văn chương, khi trưởng thành sư nương nơi thiền sư Trà Lăng Úc xuất gia rồi đến tham vấn Dương Kỳ… Trải qua một thời gian làm thị giả, sư từ giã đi đến Lô Sơn.

CẦN BA TỬ

勤巴子

Còn gọi: Ba Đầu Tử, Xuyên Cần.

Chỉ cho Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135), Cao tăng tông Lâm Tế sống vào đời Tống.

Do vì trên đầu của Viên Ngộ có một vết sẹo hình chữ ba () nên trong nhà Thiền gọi sư là Ba Đầu Tử. Có thuyết cho rằng do sư xuất thân ở xứ Ba Tây (Thành Đô), tỉnh Tứ Xuyên, nên mới được gọi là Cần Ba Tử, Xuyên Cần.

CẦN CỰU

勤舊

Chức sự tăng trong tự viện (như Tri sự, Thị giả…) sau khi nghỉ việc. Thông thường là những vị tham thiền đã lâu, có tư cách về tuổi tác.

MANL ghi:

師初住烏巨、普說:某自携被人方丈、經五十日、未曾擧著方丈職、無他、盖此間有數人勤舊、皆是見前大尊宿經大爐鞴中鍛爍過來、故乃縮手。

Sư mới trụ Ô Cự, lên pháp tòa thuyết pháp: Tôi tự dắt một người vào Phương trượng được năm mươi hôm rồi mà chưa từng cử chức Phương trượng cho ông ta. Bởi trong đây có vài người cần cựu đều đã từng gặp các vị Tôn túc tiền bối, đã từng được hun đúc trong các lò rèn lớn, nên tôi mới bó tay.

CẤP

Rương đan bằng trúc để đeo sau lưng của các vị tăng hành cước.

Viên Ngộ Phật Quả thiền sư ngữ lục q.1 ghi:

碧巖集行于世者數版。卷套多多。到上學徒盛笈非便也

Bích Nham Tập có vài bản được lưu hành ở đời, quyển bộ rất nhiều được đựng đầy trong rương người học, không phải chuyện thường

TCLq.1 ghi:

故知無有不達此者。頓息遊心。任負笈携囊。廣歷三乘之學肆。

Nên biết không ai mà chẳng đạt việc này. Chóng dừng tâm rong ruổi, mặc tình vác rương mang túi, đi khắp các pháp hội tam thừa.

CẤP THỊ

給侍

1. Hầu hạ.

Tiết Tín Tương Tông Hiển Thiền sư trong NĐHN q. 18 ghi:

師給侍之久、祖(指五祖法演)鍾愛之。

Sư hầu hạ Tổ đã lâu, Tổ (Ngũ Tổ Pháp Diễn) một lòng yêu mến.

2. Thị giả.

Chương Tổ thứ 3 Thương Na Hòa Tu trong CĐTĐL q. 1 ghi:

尊者(指商那和修)化緣既久思付正法。尋於吒利國得優波鞠多以爲給侍。

Tôn giả (Thương Na Hòa Tu) hóa duy

view(676)